Tổ chức YWAM Mercy Việt Nam là một Tổ chức thực hiện chương trình phát triển cộng đồng tại địa phương. Chúng tôi tin rằng mọi người đều có khả năng giúp cải thiện cuộc sống của chính họ. Và chìa khóa để giúp phát triển cộng đồng thường nằm đâu đó ngay sát hoặc trong chính cộng đồng đó với sự can thiệp tối thiểu từ bên ngoài.

YWAM Mercy Việt Nam tin rằng mỗi người đều có giá trị và đáng nhận được cơ hội để phát triển. Tùy thuộc vào con người hoặc vào cộng đồng, mà cơ hội đó được định dạng giống như một dự án ngân hàng bò, dự án tín dụng nhỏ, tập huấn kinh doanh, tập huấn làm cha mẹ, hay một hoặc nhiều giải pháp cộng đồng riêng biệt mà chúng tôi đang thực hiện.

YWAM Mercy Việt Nam là một thành viên trong mạng lưới của YWAM Mercy là một phần của Gia đình YWAM (Thanh niên với Sứ mệnh) Quốc tế.
YWAM Mercy Việt Nam đăng ký với chính phủ Việt Nam dưới hình thức là một Tổ chức Phi chính phủ Quốc tế Thụy Sỹ với giấy phép hoạt động số 46/BNG-VPDA. Chúng tôi cộng tác với các tổ chức ở tại Mỹ, Canada, Đức, Thụy Sỹ là những quốc gia chấp thuận biên lai khấu trừ thuế.

NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG

CÓ TÍNH ĐẶC THÙ CỦA TỪNG CỘNG ĐỒNG

Mỗi cộng đồng có những nhu cầu khác nhau, nên mỗi dự án phải được thiết kế một cách cẩn trọng để đưa ra được những giải pháp hiệu quả cho cộng đồng đó. Khi bắt đầu làm việc tại một cộng đồng, chúng tôi thường thực hiện một đợt khảo sát tổng thể bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau. Khoảng 25% số hộ trong cộng đồng đó sẽ được chọn ngẫu nhiên tùy theo thực trạng, nhu cầu và cơ hội phát triển của cộng đồng đó. Từ kết quả của đợt khảo sát tổng thể này, một bản kế hoạch chi tiết cho sự phát triển của cộng động đó sẽ được thiết kế.

CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG

YWAM Mercy Việt Nam chỉ làm việc tại những cộng đồng nơi mà chúng tôi được giới thiệu, và nơi mà lãnh đạo và người dân tại cộng đồng đó nhận thấy nhu cầu cần được thay đổi. Thay vì thực hiện những dự án cho những cộng đồng này, chúng tôi cung cấp những công cụ, công tác hỗ trợ quản lý dự án, và sự minh bạch cần thiết để giúp cộng đồng trong việc tự quản lý và điều hành dự án. Những kế hoạch chi tiết đã được thống nhất trước khi dự án bắt đầu, nhằm chỉ rõ khoảng thời gian sự tham gia của chúng tôi cho đến thời điểm mà dự án được chuyển giao cho địa phương tự quản lý một cách hoàn toàn.

CÓ SỰ SỞ HỮU CỦA CỘNG ĐỒNG

Cộng đồng làm chủ là chìa khóa của sự bền vững. Chúng tôi không tài trợ toàn bộ ngân sách dự án. Mỗi một một chương trình đòi hỏi những phương pháp và chiến lược khác nhau để chắc chắn rằng người dân và lãnh đạo của cộng đồng đó cam kết cho sự thành công của chương trình. Cộng đồng phải sẵn sàng đầu tư cả thời gian lẫn các nguồn lực một cách tối đa. Điều này cho thấy lãnh đạo và người dân địa phương duy trì sự tham gia tích cực trong quá trình thực hiện dự án, đồng thời khích lệ họ đảm đương vai trò làm chủ dự án. Cộng đồng làm chủ tạo ra một sự chuyển giao một cách thông suốt đối với công tác quản lý dự án khi sự tham gia của chúng tôi kết thúc.

CÓ SỰ CHÚ TRỌNG ĐẾN TỪNG CÁ NHÂN TRONG CỘNG ĐỒNG

Chúng tôi tin rằng cộng đồng được thay đổi bắt đầu từ một cá nhân, một gia đình, một mối quan hệ. Trao quyền cho một cá nhân trong cộng đồng để giúp họ thành công sẽ tạo ra một làn sóng ảnh hưởng có sức mạnh biến đổi cả cộng đồng. Trao quyền cho cha mẹ, cho trẻ em, cho giáo viên, cho nông dân, cho các chủ doanh nghiệp để giúp họ thành công và phát triển mạnh mẽ sẽ giúp biến đổi cả cộng đồng.

ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG

YWAM Mercy Việt Nam hiện đang thực hiện các dự án tại ba huyện ở Miền Bắc Việt Nam. Những khu vực này đang trải qua nhiều thay đổi kinh tế và chúng tôi tin rằng tất cả người dân đều được hưởng lợi từ những cơ hội mà thay đổi đem tới.

Từ năm 1986, Việt Nam đã chuyển từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới, với thu nhập bình quân khoảng 100 Đô-la Mỹ /người/năm, lên mức thu nhập trung bình thấp, với thu nhập bình quân khoảng 2,100 Đô-la /người/năm vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều khiến cho rất nhiều nông dân (chiếm 66% dân số cả nước) không thể dựa vào sản xuất nông nghiệp để phát triển kinh tế hộ. Trong một trong những cộng đồng nơi chúng tôi làm việc với thu nhập bình quân đầu người hàng năm chỉ là $318.

Việt Nam hiện đang trải qua cuộc cách mạng công nghiệp nơi đất canh tác đang được chuyển đổi để phục vụ công nghiệp. Các hộ gia đình không thể phụ thuộc nguồn thu nhập nếu chỉ dựa vào canh tác thuần túy.

Địa bàn:

Lục Nam là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm thành phố Bắc Giang 20 km về hướng đông.

Lục Nam là một trong số 3 huyện có diện tích rộng nhất tỉnh Bắc Giang. Trong huyện có 25 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 600 km2. Diện tích đất nông nghiệp trong huyện là 18,720 ha và 27,000 ha đất rừng.

Dân số:

Với tổng dân số là 226,502 người (tính đến 30 tháng 6 năm 2016), Lục Nam là huyện đông dân thứ 2 trong tỉnh.

Tổng số hộ dân trong huyện là 54,974. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo là 21%, và tỷ lệ hộ cận nghèo là 10%.

Trên địa bàn huyện Lục Nam có rất nhiều dân tộc cùng sinh sống. Đa số là người Kinh chiếm 85% tổng dân số. Một số dân tộc khác như:

  1. Tày
  2. Nùng
  3. Dao
  4. Cao Lan
  5. Hoa
  6. Mường
  7. Sán Dìu
  8. Sán Chỉ

Luc NAm Culture-5Thu nhập:

Phần lớn người dân sống ở khu vực nông thôn. Thu nhập bình quân trên đầu người là 20 triệu đồng (khoảng $900)/năm.

Các nguồn thu nhập chính của người dân:

  • Sản xuất lâm nghiệp và thủy sản chiếm 44%
  • Công nghiệp chiếm 30%
  • Dịch vụ và du lịch chiếm 26%

Các cây trồng nông nghiệp chính có lúa, ngô, khoai lang, khoai sọ, các loại rau, đậu, lạc và cây thuốc lá. Trong những năm gần đây ngày càng nhiều đất đồi, rừng được dùng để canh tác các loại cây trồng khác như chè, cam, chanh, dứa, chuối, vải, táo, nhãn, hồng và hạt dẻ.

 

Giáo dục:

Huyện có tổng số 99 trường học: Bao gồm 34 trường mầm non, 34 trường tiểu học, 26 trường cấp hai, và 5 trường cấp ba.

Trong những năm gần đây, chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện được cải thiện, nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên vẫn cần rất nhiều những sự hỗ trợ để các trường được chuẩn hóa một cách đồng đều hơn. Cơ sở hạ tầng của các trường vẫn còn rất khó khăn. Các trang thiết bị tại các nhà trường xuống cấp, các phòng học thiếu ánh sáng, dụng cụ học tập và các phòng chức năng hầu như không có.

Bên cạnh đó, nhu cầu đào tạo cho đội ngũ giáo viên là rất lớn.

 

Chăm sóc sức khỏe:

Lục Nam có một trung tâm y tế tuyến huyện, và mỗi xã có một trạm y tế cấp xã. Ngoài ra còn có hệ thống các phòng khám và trung tâm y tế tư nhân nằm rải rác trong địa bàn huyện. Nhưng nhìn chung, các cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế còn rất nghèo nàn và xuống cấp. Đội ngũ y bác sỹ và nhân viên y tế vẫn chưa có được những cơ hội tham gia các khóa tập huấn nâng cao tay nghề kỹ năng trong công việc.

BA VIE Culture-4Vị trí địa lý:

Huyện Ba Vì nằm ở khu vực đồng bằng miền núi, cách trung tâm thành phố Hà Nội 60 km về hướng tây.

Khí hậu ở đây mát mẻ hơn so với khu vực thành thị của Hà Nội, với nhiệt độ trung bình là 23,4 độ C.

Ngọn núi Ba Vì được coi là một biểu tượng tâm linh, và được ví như “chúa của các ngọn núi” cho dù nó không phải là ngọn núi cao nhất Việt Nam. Ba đỉnh của ngọn núi luôn được che phủ bởi sương mù. Hồ suối Hai, một hồ nhân tạo nằm ở rìa tây của dãy núi, cũng như rừng Quốc gia Ba Vì là những địa danh nổi tiếng để nghỉ mát và thư giãn.

Huyện Ba Vì nổi tiếng với nghề nuôi bò sữa. Giống bò sữa ở tại đây được nhân giống từ giống bò đỏ của địa phương với giống bò sữa ở Châu Âu. Dọc hai bên đường là những biển hiệu “sữa tươi, sữa chua, caramen” mang thương hiệu Ba Vì. Sữa bò Ba Vì có mùi vị tuyệt vời, bởi những giống cỏ làm thức ăn chính cho bò sữa ở đây được trồng trên những mảnh đất màu mỡ.

Tổng diện tích tự nhiên của huyện Ba Vì là 424 km2.

BA VIE Culture-3Dân số:

Tổng dân số của huyện Ba Vì là khoảng 287.000 người.

Trong đó:

  • Người Kinh: 260.088 người.
  • Người Mường: 24.781 người (khoảng 9%).
  • Người Dao: 2.131 người (khoảng 1%).

Người Mường và người Dao là những nhóm người sống tại 7 xã miền núi của huyện Ba Vì, trong đó có 4 xã dự án của Tổ chức Thanh niên với Sứ mệnh tại Việt Nam.

BA VIE Culture-2Thu nhập:

Tổng số hộ gia đình trong địa bàn huyện là 65.581 hộ.

Tỷ lệ hộ được phân chia theo tình trạng kinh tế hộ:

  • Hộ nghèo: 4.090 hộ (6%)
  • Hộ cận nghèo: 5.743 hộ (8%)

Nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình:

  • Dịch vụ & du lịch: 52%
  • Nông nghiệp: 32%
  • Công nghiệp & xây dựng: 16%

Giáo dục:

Ba Vì có 121 trường học: 42 trường mầm non, 36 trường tiểu học, 35 trường THCS, và 8 trường THPT.

HOI duc Culture-2Địa bàn:

Hoài Đức là một huyện cách trung tâm Hà Nội 20km về phía Tây.

Hoài Đức gồm 20 xã và thị trấn, với tổng diện tích đất tự nhiên là 8,267 km2.

Dân số:

Hoài Đức có 212,900 người, trong đó có 120,950 người trong độ tuổi lao động. Cư dân nơi đây đều là người dân tộc Kinh.

Thu nhập:

HOI duc Culture-3Nền kinh tế ở Hoài Đức trước đây phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp truyền thống. Năm 2008, Hà Nội mở rộng khu đô thị, trong đó có huyện Hoài Đức, hầu hết đất nông nghiệp ở khu vực này đã được phân vùng lại nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh doanh cá thể, cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Hoài Đức thường phải đối mặt với nhiều thách thức lớn trong việc tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương.

HOI duc Culture-1

18 NĂM PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Staff portraits-6 copyKhi tôi (Roslyn) lần đầu tiên đến Việt Nam vào tháng 9 năm 1995, tôi đã có một khát khao mạnh mẽ để tạo ra sự khác biệt trong đời sống của những người nghèo nơi đây. Trong khi học ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, tôi đã nghiên cứu về cách tiếp cận để tạo nên một khác biệt trường tồn.

Năm 1998 YWAM Mercy Việt Nam đã được PACCOM (Ủy ban Điều phối Viện trợ Nhân dân) – là ủy ban phụ trách các Tổ chức phi chính phủ quốc tế – cấp phép hoạt động.

Chúng tôi được các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam mời bắt đầu các hoạt động ở vùng ngoại ô Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây).

Hy vọng thành công nhanh chóng, vào năm 1998 chúng tôi đã bắt đầu thực hiện dự án đầu tiên là cung cấp hạt giống và phân bón cho một xã. Khi chúng tôi đánh giá dự án này, chúng tôi đã rút ra được bài học về tầm quan trọng của việc đưa cộng đồng tham gia vào trong giai đoạn thiết kế dự án. Trong khi những người dân được hưởng lợi rất nhiều từ dự án này, chúng tôi đã đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm để thực hiện các dự án tiếp theo của chúng tôi mang tính cộng đồng làm chủ và bền vững hơn.

Sau dự án đầu tiên, chúng tôi tiếp tục được mời làm việc tại hai huyện lân cận. Và trong năm 1999, chúng tôi bắt đầu thực hiện dự án cung cấp nước sạch cho các trường học và các trạm y tế xã. Khi thực hiện dự án này, chúng tôi thấy cần hỗ trợ các trường mầm non. Rút ra những bài học kinh nghiệm từ các dự án trước, dự án tiếp theo của chúng tôi là dự án Phát triển Trẻ thơ Toàn diện (ECD), không chỉ tập trung cải thiện cơ sở vật chất trường học, mà tập trung vào việc giải quyết vấn đề chất lượng chăm sóc trẻ tại gia đình cũng như tại trường học.

Những cộng đồng này cũng bày tỏ mối quan tâm của họ về vấn đề ô nhiễm môi trường do các khu vực chăn nuôi gây ra. Vì vậy, trong năm 2001, dự án Biogas đầu tiên của chúng tôi đã được thực hiện.

Năm 2000, chúng tôi bắt đầu thực hiện dự án tại huyện Ba Vì khi tiếp quản một Nhà Trẻ em và sau đó hỗ trợ thêm hai Nhà Trẻ Em khác, các Nhà Trẻ Em này được thiết lập dựa vào cộng đồng để nuôi dưỡng các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. 

Sau đó, các lãnh đạo tại Ba Vì nghe nói về sự thành công của dự án Biogas trước đây của chúng tôi và yêu cầu giúp đỡ tương tự cho các vấn đề ô nhiễm môi trường của họ. Khi xem xét các dự án Biogas trước đây, chúng tôi nhận ra một trong những rào cản các gia đình trì hoãn xây hầm Biogas là họ thiếu kinh phí. Vì lý do đó, chúng tôi quyết định cung cấp khoản vay nhỏ cho các dự án Biogas trong tương lai. 

Chúng tôi bắt đầu ở huyện Lục Nam năm 2003 và trong giai đoạn khảo sát đã giúp nhận biết các vấn đề khó khăn cần được giải quyết. Chúng tôi thấy rằng nhiều gia đình phải vật lộn với đói nghèo vì họ thiếu những cơ hội để cải thiện hoàn cảnh của họ. Vì vậy, ngoài việc cải thiện giáo dục mầm non, chúng tôi bắt đầu hoạt động ngân hàng bò và các đội sản xuất để đào tạo và cung cấp tín dụng vi mô cho các gia đình này.

Năm 2008, ranh giới của Hà Nội mở rộng, bao gồm cả tỉnh Hà Tây. Trong quá trình chuyển đổi này, khu vực nông nghiệp bị mất đất canh tác và người dân nơi đây cần phải tìm các công việc khác. Trong năm 2009, chúng tôi hợp tác với Swiss Create Thụy Sỹ để giúp phát triển doanh nghiệp tại khu vực này, để các chủ doanh nghiệp tại đây có thể tạo ra các việc làm ổn định. Chúng tôi thí điểm chương trình này tại một xã, và sau đó Hội Liên Hiệp Phụ Nữ huyện đã đề nghị chúng tôi mở rộng dự án này cho toàn huyện.

Dự án của chúng tôi tại hai huyện đầu tiên đã kết thúc. Chúng tôi hiện đang thực hiện các dự án tại 3 huyện ven đô của Hà Nội mở rộng. Chúng tôi đã học hỏi được rất nhiều về phát triển cộng đồng và những dự án của chúng tôi ngày càng được cộng đồng tự chủ và tự thực hiện. Chúng tôi cũng đã mở rộng phạm vi hoạt động để đáp ứng các nhu cầu khác nhau trong cộng đồng.

Trong những năm qua chúng tôi đã có cơ hội chứng kiến sự thành công của nhiều địa phương trong tháo gỡ và vượt qua các khó khăn thách thức và tiếp tục nhân rộng thành quả của dự án sau khi kết thúc, không còn sự hỗ trợ của chúng tôi.

YWAM Mercy Việt Nam được các cấp có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép hoạt động như một Tổ chức phi chính phủ quốc tế Thụy Sĩ với đăng ký Văn phòng Dự án số: 46 / BNG-VPDA.

Trụ sở chính của YWAM Mercy Quốc tế nằm ở Rte de Begnins5, 1268 Burtigny, ĐCSTQ 10-25823-4, Thụy Sĩ và có số đăng ký CH-550.0.174.126-2.

HÃY THAM GIA CÙNG CHÚNG TÔI – ĐĂNG KÝ ĐỂ NHẬN ĐƯỢC NHỮNG THÔNG TIN CẬP NHẬT NHẤT